|
"Anh em hãy đi khắp tứ phương
thiên hạ mà loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.
Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được
cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án"(Mc 16,15-16)
Anh chị em thân mến,
Hôm nay là ngày Chúa Nhật Quốc Tế Truyền
Giáo, một trong những ngày quan trọng trong chu kỳ phụng vụ trong năm,
quan trọng vì mối tương quan giữa ngày lễ này với Chúa Kitô, với Giáo
Hội và với mọi Kitô hữu. Để nhận thức đúng mức tầm quan trọng của Ngày
Quốc Tế Truyền Giáo, chúng ta phải đặt mình trong cái nhìn, trong tư
tưởng và tâm tình của Chúa Kitô. Vì như lời Người đã nói với ông Simon
Phêrô: "Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha
của Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16.17)
Vì thế, dưới ánh sáng của Chúa Cha,
chúng ta hãy suy niệm về sứ vụ truyền giáo.
I. LÝ DO PHẢI TRUYỀN GIÁO
* Chúa Cha đã sai Tôi
(Ga 12.49)
Chúa Giêsu vẫn tự xưng mình là
người được Chúa Cha sai. Hàng chục lần, Người đã sử dụng danh xưng này.
Người "được sai đi để loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó" (Lc
4,43), "để cứu độ trần gian" (x. Ga 3,17), "để hoàn thành những
việc Chúa Cha giao phó" (x. Ga 5.36). Người là tông đồ, là thừa sai,
là nhà truyền giáo của Chúa Cha. Tông đồ có nghĩa là được sai đi ; và
suốt đời, Người đã làm công việc này. Từ ngày nhờ Mẹ, với Mẹ và trong
Mẹ, Người đã mang niềm vui đến thăm gia đình bà Elisabeth (x. Lc 1,44)
cho đến mệnh lệnh cuối cùng của Người trước khi về trời (x. Mt 28,19),
tất cả cuộc đời của Người đều hướng về việc truyền giáo. Theo các thánh
sử, thì Người đã đi khắp miền Galilê (x. Mc 1,39), Jêrusalem, Samaria,
Tyro và Sidon (Mt 15,21) và cả miền Thập Tỉnh (Mc 5,20). Người đã đi
khắp các thành thị và làng mạc. Người đã rao giảng cho dân chúng ở miền
duyên hải, trên núi đồi, trong các hội đường và cả những nơi hoang địa.
Người đã nói : "Thầy ra đi cốt để rao giảng Tin Mừng" (Mc 1,39). Tông
huấn loan Tin Mừng của Đức Phaolô VI đã viết : "Chính Chúa Giêsu, Tin
Mừng của Thiên Chúa là nhà truyền giáo đầu tiên và vĩ đại nhất. Ngài đã
rao giảng đến cùng: nghĩa là đến mức hoàn hảo, đến hy sinh cả cuộc sống
dương thế của Ngài" (số 6). Truyền giáo là sứ vụ hàng đầu của Chúa
Giêsu, đấng được Chúa Cha sai.
* Như Cha đã sai Thầy,
Thầy cũng sai các con
(Ga 20,21)
Được sai đi loan Tin Mừng,
Chúa Giêsu đã sai lại các môn đệ. Người đã thiết lập một Giáo Hội tông
truyền, tức là được xây dựng trên nền tảng những người được sai đi (tông
đồ) để loan Tin Mừng (truyền giáo) cho mọi người. Mệnh lệnh truyền giáo
của người đều được 4 thánh sử ghi lại
"Anh em hãy đi và làm cho
muôn dân trở thành môn đệ Thầy" (Mt 28,19).
"Hãy đi khắp bốn phương
thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo" (Mc 16,15).
"Hãy rao giảng cho muôn
dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội" (Lc 24,47).
"Như Cha đã sai Thầy đã sai
Thầy, Thầy cũng sai các con" (Ga 20,21).
Chúa Giêsu đã tuyển chọn và
đào tạo các môn đệ, để họ "ở với Người và để Người sai các ông đi rao
giảng" (Mc 3,14).
Tông huấn loan Tin Mừng viết :
"Rao giảng Tin Mừng là ân huệ và ơn gọi của Giáo Hội, là chân tính sâu
xa nhất của Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu để rao giảng Tin Mừng" (số 14).
Công đồng Vaticanô II cũng đã
dạy như vậy: "Tự bản tính, Giáo Hội luôn hành phải truyền giáo"
(TG 2). Vì thế, chỉ có Giáo Hội truyền giáo mới là Giáo Hội đích thực
của Chúa Kitô.
Bởi vậy không một tổ chức nào
trong Giáo Hội được miễn.
* Mệnh lệnh truyền giáo cũng
là di chúc của Chúa Giêsu trước khi về trời, là "hãy đi
khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mt
16,15). Mệnh lệnh này liên quan đến mọi tín hữu - vì như Công đồng
Vaticanô II đã dạy: "Ơn gọi làm kitô hữu tự bản chất là ơn gọi làm tông
đồ" (TĐ số 20).
Nhưng làm rao đi được khắp tứ
phương thiên hạ - hay đến tận cùng trái đất (Mt 28,19). Chúng ta không
đi được, nhưng có người đi thay cho chúng ta. Là người Á châu, chúng ta
không trực tiếp truyền giáo được cho Phi châu. Nhưng là chi thể trong
một Thân Thể Chúa Kitô, chúng ta vẫn có thể làm được: bằng lời cầu
nguyện, sự hy sinh, đời sống chứng tá và sự dâng hiến cho việc truyền
giáo những của lễ thiêng thiêng và vật chất.
II.
PHẦN CHÚNG TA.
1.
Chúng ta sẽ truyền giáo trước tiên bằng cầu nguyện.
Têrêsa
Hài Đồng Giêsu nay là Bổn mạng các xứ truyền giáo. Người không đặt chân
đến một nơi truyền giáo nào; cũng chẳng đào tạo một lớp tông đồ nào để
sai đi. Nhưng người chia sẻ tâm tình cứu thế của Chúa. Người cầu nguyện
hy sinh cho việc truyền giáo. Người kêu gọi khuyến khích các tâm hồn
tông đồ. Người sống như thể đang ra đi, đang rao giảng, đang chịu đau
khổ, đang rửa tội cho lương dân. Giáo hội đặt người làm Bổn mạng các xứ
truyền giáo để toàn thể Dân Chúa thấy phải tha thiết với việc truyền
giáo như thế đó.
2. Bằng
những hy sinh đóng góp cho việc truyền giáo. Hằng năm các Đức Thánh Cha
vẫn nhắc nhớ cho chúng ta điều đó. Ở VN chúng ta thì xem ra vấn đề đề
này còn rất yếu. Các nước Tây Phương họ ý thức rất rõ về vấn đề này.
3.
Ngoài những lời cầu nguyện ra ngày hôm nay người nói rất nhiều đến
đời sống chứng tá.
+ Một
nhóm bạn trẻ từ nhiều quốc gia đang bàn thảo về cách làm cho Tin Mừng
Chúa được lan rộng. Họ nói về sự tuyên truyền, về lài liệu và những cách
phổ biến Tin Mừng trong thế kỷ XX này.
Một cô
gái Phi Châu nói:
- Khi
muốn truyền đạo cho một làng của chúng tôi, chúng tôi không cho họ sách.
Chúng tôi gửi một gia đình Kitô giáo tốt đến sống trong làng. Và họ sẽ
làm cho mọi người thành Kitô hữu.
+ Một
buổi chiều năm 1953, các ký giả và một số nhân viên chính phải phủ Hoa
Kỳ tập trung ở một nhà ga xe lửa tại Chicago để chào đón người được giải
thưởng Nobel hòa bình năm 1953 trở về.
Người
vừa xuống khỏi xe lửa là một người đàn ông cao lớn, tóc quăn, có một
chòm râu mép dài. Các máy ảnh chớp liên hồi. Các nhân vật cao cấp của
thành phố giang rộng tay đón chào vị thượng khách.
Người
được giải Nobel hòa bình cám ơn mọi người rồi rồi đưa mắt nhìn về một
một chỗ xa xa ở trên sân ga. Ông xin kiếu vài phút để đi thẳng về hướng
đó. Mọi người tưởng ông để quên hành lý nào đó. Ông băng qua đám đông,
trực chỉ đến một người đàn bà da đen lớn tuổi đang khệ nệ với hai va ly
nặng trên tay. Ông đưa tay xách cả hai va ly, rồi đưa người đàn bà ra
một chiếc xe buýt gần đó. Khi giúp người đàn bà lên xe xong, ông không
quên chúc bà thượng lộ bình an. Quay lại với đám đông, ông xin lỗi vì đã
bắt mọi người chờ đợi.
Người
được giải thưởng hòa bình năm 1953 ấy không ai khác hơn là bác sĩ
Albert Schweitzer, nhà truyền giáo nổi tiếng đã hy sinh cả cuộc đời cho
người nghèo tại Phi Châu.
Chứng
kiến cử chỉ của ông, một người thuộc ủy ban tổ chức đón tiếp ông hôm đó
nói với các ký giả: "Đây là lần đầu tiên tôi thấy được một bài
giảng biết đi"
+ Một
thương gia giàu có xin nhập đạo. Khi được hỏi lý do, ông đáp:
- Nhờ
gương một công nhân của tôi. Đôi lúc tôi nổi nóng, quát mắng, nhưng anh
không hề tỏ ra giận ghét tôi, đù tôi biết anh rất đau khổ. Có khi tôi
đối xử thô bạo với anh, anh không bao giờ thốt lên nửa lời. Thái độ của
anh làm tôi, dù là cấp trên, đem lòng cảm phục. Sự thực, anh chẳng bao
giờ nói với tôi về đạo, nhưng đời sống đạo của anh đã chinh phục tôi.
Giờ tôi không còn nghi ngờ gì nữa và tôi hy vọng Chúa Giêsu Kitô sẽ ban
cho tôi sự sống đời đời.
Lạy
Chúa Giêsu xin biến chúng con thành những người đi loan báo Tin Mừng cho
Chúa. Amen. |